Hiển thị các bài đăng có nhãn chè thái nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chè thái nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Trà xưa và nay

Trà xưa và nay

Uống trà là nét văn hóa lâu đời của người Việt Nam. Ngày xưa trà chỉ được dùng trong lớp quyền qúy cao sang. Tác phong mời trà một cách cung kính, nâng tách trà bằng hai tay tỏ ra rất thanh tao lịch lãm. Qua cung cách này người được mời có thể thấy được phần nào cốt cách sống và hiểu phần nào chịu ảnh hưởng gia phong của người mời trà. Trước khi uống người ta nhẹ nhàng đưa tách trà lên thưởng thức hương trà rồi từ tốn nhấp từng ngụm nhỏ để thưởng thức vị ngon của trà. Từ chất lượng của tách trà người uống sẽ thấy được cái tâm, cái tình của người đã pha chung trà.
Trà xưa
Trà không chỉ là một thức uống mang đậm bản sắc văn hóa mà có gía trị liệu pháp, giúp cho máu huyết lưu thông, lợi tiểu, có khả năng chống ung thư, tiêu độc, điều hòa huyết áp… Trước đây trà chỉ phổ biến ở một số nước Châu á như ở Ấn Độ, Srilanca chỗ nào cũng trồng trà để cung cấp cho người bản địa và cả cho xuất khẩu. Sau này được lan rộng ra các nước Trung Á như một số nước thuộc khối “Udơbêch” của các nước cộng hòa Liên Xô cũ, đặc biệt những nước này không trồng trà, nhưng ở nơi nào cũng uống trà. Trên “con đường tơ lụa” trà dần dần có mặt ở các nước Châu Âu.
Quán cóc ở Hà Nội
Ở Việt Nam, có thể nói trà có mặt trong mọi hoạt động của xã hội, từ trong gia đình ra ngoài phố, từ nhà hàng, quán chợ cho đến những nơi tiếp khách sang trọng. Từ tế lễ, cưới hỏi, sinh nhật, ma chay, cúng giỗ…
Nếu trà dùng khi nhất ẩm (uống trà một mình) là lúc người đó đang nhâm nhi lẩm nhẩm thi thơ ôn luyện, nếu song ẩm (hai người uống trà) thì cùng cởi mở văn bài tiêu dao, thậm chí hưng phấn cùng cầm kỳ thi họa và cùng nhau thưởng thức tiếng oanh nỉ non ngoài vườn. Trà cũng như người bạn tâm giao của con người khi có tâm sự, giúp cho người ta nhớ đến tri ân, tri kỷ hoặc suy ngẫm về người, về mình, về nhân tình thế thái những năm tháng qua. Khi giận dữ không ai tự pha được ấm trà ngon, chỉ sau khi nguôi ngoai người ta mới có thể ngồi uống trà như một cách thiền “chánh niệm” vậy

Người xưa uống trà
Phong cách uống trà của người Việt Nam rất đa dạng không theo chuẩn mực nào, biểu hiện đầy đủ khía cạnh ngôn ngữ sâu xa trong văn hóa ứng xử đầy tính sáng tạo của người pha trà và người được mời uống trà đã được nâng lên bậc nghệ thuật pha trà và văn hóa uống trà. Những người hiểu biết về văn hóa uống trà, nghệ thuật pha trà của người Việt Nam thì không bao giờ chịu ảnh hưởng chút nào của người Trung Quốc, Hàn Quốc, càng không giống trà đạo của người Nhật Bản. Có thể khẳng định ở Việt Nam không có trà đạo mà chỉ có nghệ thuật uống trà.
Người trong Hoàng cung trước kia khi pha trà cho các ông vua, bà hoàng rất cầu kỳ và công phu, phải hứng từng giọt sương trên búp sen vào lúc chưa có ánh nắng. Còn các cụ xưa thường dùng nước mưa sẽ giúp cho nước trà tăng thêm vị ngọt, sau khi uống sẽ thấy vị ngọt lưu lại nơi cổ họng. Kỹ năng pha trà tùy theo kinh nghiệm bí quyết của mỗi người, tùy vào chất lượng và hương vị của mỗi loại trà nên pha loại ấm nào. Trước khi pha trà phải tráng ấm bằng nuớc sôi cho nóng trước rồi cho trà vào, khi pha xong đậy nắp kín tiếp tục rót nước sôi từ trên nắp xuống như tắm ấm để giữ nhiệt độ nóng trong ấm giúp cho các cánh trà được thấm đều.
Người bạn Tri kỉ
Người bạn Tâm giao
Những người uống trà sành điệu miền Bắc thường uống trà không ướp hương, vì như thế sẽ không còn hương vị thật của trà. Khoảng mười năm trở lại đây trà được phát triển rộng rãi để phục vụ nhu cầu trong nước và để xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã sử dụng hương liệu để ướp trà trong đó có những công ty và cơ sở nổi tiếng cũng dùng kỹ thuật này nhằm mục đích có lãi cao. Điều đáng chú ý là trà ướp hương liệu thường có mùi thơm đậm hơn trà có hương vị thật, chỉ có người sành điệu uống trà mới biết trà nào ướp hương liệu và trà nào là nguyên chất. Có doanh nghiệp còn dùng thủ đoạn dụ du khách vào uống trà miễn phí để rồi khách phải mua trà với cái gía “cắt cổ” mang về.
Ngày tết hay trong sinh hoạt thường nhật, đến bất cứ gia đình nào hay cơ quan nào chỉ cần nhìn cung cách chủ nhà pha trà, rót trà, mời trà là có thể thấy được người đó có sành văn hóa uống trà hay không, chưa nói đến nghệ thuật pha trà. Thế nhưng, dù con người đang ở bất cứ trạng thái nào khi có tách trà trên tay cũng giúp cho người ta thấy lịch lãm thư thái. Chính vì vậy trà không chỉ là một thức uống mang đậm bản sắc văn hóa trong đời sống mà còn được các nhà làm nghệ thuật sân khấu và điện ảnh thường sử dụng như một đạo cụ, một phương tiện để các nhân vật giao lưu giúp cho diễn viên nâng cao trình độ diễn xuất. Mới đây Cục điện ảnh chủ trương không đưa thuốc lá lên phim thì văn hóa uống trà của dân tộc ta càng được nâng cao giá trị trên màn bạc và trong cuộc sống của cộng đồng người Việt Nam.

Nghệ thuật thưởng thức trà đạo của Việt Nam

Nghệ thuật thưởng thức trà đạo của Việt Nam

Có rất nhiều nước trồng chè và tương ứng với nó cũng có bấy nhiều cách thức uống. Cách thức thưởng trà được nâng lên thành nghệ thuật có ở Trung Hoa và Nhật Bản - nơi đã từng coi trà như một tôn giáo như cách gọi trà kinh, trà đạo. Còn ở Việt Nam cách uống trà thể hiện phong phú những khía cạnh văn hoá ứng xử của người dân Việt. Và cách ẩm trà của người Việt cũng rất riêng, rất độc đáo: các bậc tiền nhân xưa cho rằng uống trà là một nghệ thuật, mà nghệ thuật thì phi công thức.
chè thái nguyên, bán chè thái nguyên, chè tân cương thái nguyên, bán chè tân cương thái nguyên 1
Vì lẽ ấy các bậc tiền nhân thường có cách uống trà như sau: trước khi uống thường đưa qua mũi để tận hưởng hương vị trà, sau mới hạ dần xuống miệng, môi nhấp ngụm nhỏ thấy chát đắng, chân răng cảm nhận như chặt lại, miệng chép liền mấy cái đã thấy dịch vị trong miệng tiết ra có vị ngọt dịu, lòng sảng khoái luận về trà. Từ chất lượng của ly trà người uống sẽ thấy được cái tâm, cái tình của người đã pha chung trà.
chè thái nguyên, bán chè thái nguyên, chè tân cương thái nguyên, bán chè tân cương thái nguyên 2
Người Việt dùng trà nguyên thủy (trà mộc) ướp với nhiều hương liệu khác nhau thành trà sen, trà sói, trà bạch ngọc (ướp hương từ năm loại hoa màu trắng: nhài, cúc trắng, bông bạch, mộc và ngọc lan), trà mật ong, trà long nhãn, trà nhân sâm... Mỗi loại trà làm nên một hương vị khác nhau trong đó trà sen là thứ trà quý nhất mà ngày xưa chỉ dành cho bậc vua chúa thưởng thức. Người Việt thưởng trà theo cách độc ẩm (một mình), đối ẩm (hai người), hay quần ẩm (nhiều người) vừa thể hiện văn hóa thuần chất của mình đồng thời vừa có những tiêu chuẩn về chất lượng cũng như vị thế của việc thưởng trà.
chè thái nguyên, bán chè thái nguyên, chè tân cương thái nguyên, bán chè tân cương thái nguyên 3
Uống trà đối ẩm hai người
Nếu trà dùng khi độc ẩm (uống trà một mình) là lúc người đó đang nhâm nhi lẩm nhẩm thi thơ ôn luyện, nếu đối ẩm (hai người uống trà) thì cùng cởi mở văn bài tiêu dao, thậm chí hưng phấn cùng cầm kỳ thi họa và cùng nhau thưởng thức tiếng oanh nỉ non ngoài vườn. Trà cũng như người bạn tâm giao của con người khi có tâm sự, giúp cho người ta nhớ đến tri ân, tri kỷ hoặc suy ngẫm về người, về mình, về nhân tình thế thái những năm tháng qua. Khi giận dữ không ai tự pha được ấm trà ngon, chỉ sau khi nguôi ngoai người ta mới có thể ngồi uống trà như một cách thiền “chánh niệm” vậy.

“Nhất thủy, nhì trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh"

Người Việt gọi là “nhất thủy, nhì trà”, nước dùng pha trà thường phải là thứ nước mưa được hứng giữa trời, hay từ các suối nguồn tự nhiên, cầu kỳ hơn nữa là thứ sương đọng trên lá sen vào buổi sớm mai. Cách đun nước cũng phải phải đảm bảo giữ được độ thanh tĩnh và không làm ảnh hưởng đến hương vị của trà. Người trong Hoàng cung trước kia khi pha trà cho các ông vua, bà hoàng rất cầu kỳ và công phu, phải hứng từng giọt sương trên búp sen vào lúc chưa có ánh nắng. Còn các cụ xưa thường dùng nước mưa sẽ giúp cho nước trà tăng thêm vị ngọt, sau khi uống sẽ thấy vị ngọt lưu lại nơi cổ họng. Những người có thú đam mê uống trà ngày nay đã đề ra 5 chuẩn mực về cách chọn trà ngon: sắc, thanh, khi, vị, thần nhưng với những người sành trà thì trà mộc móc câu (cánh trà sao quăn lại giống hình móc câu) là loại trà quý nhất. “Tam bôi, tứ bình” (bình và ấm trà) chính là bộ đồ pha và uống trà có ấm và 4 chén quân, 1 chén tống để chuyên trà.
chè thái nguyên, bán chè thái nguyên, chè tân cương thái nguyên, bán chè tân cương thái nguyên 4
Nhất thủy, nhì trà, tam bôi, tứ bình
Chén quân thường là loại chén hạt mít (mắt trâu), bình cũng có bình chuyên, bình tống. Tùy theo lối uống “độc ẩm, song ẩm, tứ ẩm hay quần ẩm” để chọn loại bình tương ứng. Kỹ năng pha trà tùy theo kinh nghiệm bí quyết của mỗi người, tùy vào chất lượng và hương vị của mỗi loại trà nên pha loại ấm nào. Trước khi pha trà phải tráng ấm bằng nuớc sôi cho nóng trước rồi cho trà vào, khi pha xong đậy nắp kín tiếp tục rót nước sôi từ trên nắp xuống như tắm ấm để giữ nhiệt độ nóng trong ấm giúp cho các cánh trà được thấm đều.
chè thái nguyên, bán chè thái nguyên, chè tân cương thái nguyên, bán chè tân cương thái nguyên 5
Với người thưởng trà, “ngũ quần anh”, tức tìm bạn trà, đôi khi khó hơn tìm bạn rượu. Vì bạn trà là người bạn tri âm, cùng nhau thưởng trà, ngâm thơ, bộc bạch nỗi niềm hay bàn chuyện gia đình, xã hội nhân tình thế thái để cảm nhận trong trà có cả trời đất, cỏ cây.

Không gian và thời điểm thưởng trà

Người thưởng trà sành điệu là người chọn thời điểm uống trà vào lúc mờ sáng (khoảng 4-5 giờ sáng) khi thời khắc âm dương giao hòa, đêm qua - ngày tới), uống trà thời khắc giao hòa này sẽ có lợi cho sức khỏe và tâm hồn, hướng người thưởng trà tới những điều tốt đẹp.
chè thái nguyên, bán chè thái nguyên, chè tân cương thái nguyên, bán chè tân cương thái nguyên 6
Thưởng trà cung đình Huế
Về không gian thưởng trà của người Việt cũng đòi hỏi có một không gian rộng để tận hưởng được hết sự tinh túy của trà. Không gian thưởng trà thường mang hơi hướng của văn hóa thiền - là không gian thanh tịnh, thuần khiết, tao nhã, êm dịu. Lý tưởng nhất là những nơi có khung cảnh thiên nhiên đẹp, yên tĩnh, bên trong có tranh ảnh, thư pháp, góc đọc sách báo hoặc bàn cờ.

Phong cách trà Việt

chè thái nguyên, bán chè thái nguyên, chè tân cương thái nguyên, bán chè tân cương thái nguyên 7
Phong cách uống trà của người Việt Nam rất đa dạng không theo chuẩn mực nào, biểu hiện đầy đủ khía cạnh ngôn ngữ sâu xa trong văn hóa ứng xử đầy tính sáng tạo của người pha trà và người được mời uống trà đã được nâng lên bậc nghệ thuật pha trà và văn hóa uống trà. Những người hiểu biết về văn hóa uống trà, nghệ thuật pha trà của người Việt Nam thì không bao giờ chịu ảnh hưởng chút nào của người Trung Quốc, Hàn Quốc, càng không giống trà đạo của người Nhật Bản. Có thể khẳng định ở Việt Nam không có trà đạo mà chỉ có nghệ thuật uống trà.

Dòng thời gian

Dòng thời gian

Người Việt Nam chúng ta vốn vẫn sử dụng chè xanh làm thức uống chính trong đời sống thường ngày. Đây là một truyền thống văn hóa có từ xa xưa, mọi vùng miền của đất nước người ta đều uống trà, dù phong cách và sở thích có khác nhau. Tuy nhiên trồng chè và chế biến trà có xuất xứ từ miền núi phía Bắc, mà nổi tiếng nhất trong đó là vùng chè Thái Nguyên. Với đặc điểm thổ nhưỡng thích hợp với cây chè, cộng với những kinh ngiệm và bí quyết chế biến lâu năm mà địa danh này đã cung cấp cho thị trường những sản phẩm trà thơm ngon thượng hảo hạng.
Vốn là người hay uống trà, lại hâm mộ trà Thái Nguyên mà tôi thường để ý tìm hiểu về giống chè thơm ngon nổi tiếng này. Trà là sản phẩm được chế biến từ cây chè, thông qua một công đoạn sao tẩm kỳ công. Uống trà là một thú chơi thưởng thức tao nhã của các cụ ta xưa, vì vậy mà khi uống người ta thường có một thái độ kính cẩn và khiêm cung khác thường. Người chủ nhà thường mang trà ra mời khi có khách đến chơi nhà, cũng là thứ để bạn bè tri âm tri kỷ cùng nhau ngồi thưởng thức đàm đạo. Cầu kỳ hơn nữa thì nó là một thứ tôn giáo giúp cho người ta có thể giao tiếp với thế giới tự nhiên thanh khiết. Vì vậy mà chè Thái nguyên là sản phẩm đầu tiên của xứ sở ta được vinh dự nhận lãnh sứ mệnh này. Vì rằng với kỹ thuật tạo hương và chất lượng chè thượng hạng, mà khi uống vào tạo cho người ta cảm giác được giao thoa với đất trời tự nhiên, mà xa lánh chốn trần tục. Nói cách khác, việc thưởng thức trà đã được nâng lên thành một thứ tôn giáo, mà người ta thường gọi là trà đạo. Mà có lẽ cầu kỳ nhất trên thế giới là hai đất nước Trung Hoa và Nhật Bản, ở đây người ta có hẳn cả một nghi lễ để thưởng thức trà với nhiều loại trà ngon nổi tiếng khác nhau. Ở nước ta, tuy việc thưởng trà không phức tạp và kỳ công như vậy, nhưng cũng đã trở thành một văn hóa đẹp lâu đời.
Hình ảnh những đồi chè
Cơ quan tôi có anh Lễ là người Thái Nguyên, vì cũng chỉ hơn tôi 3 – 4 tuổi nên anh em thường chuyện trò thân mật những khi rảnh rỗi. Được biết quê anh cũng là một vùng trồng chè nổi tiếng, nên tôi thường hỏi anh về cây chè Thái Nguyên, cũng như những công đoạn chế biến thứ trà ngon nổi tiếng khắp nơi này. Anh nhiệt tình trả lời và giải đáp những thắc mắc của tôi, tuy nhiên đôi khi thấy tôi hỏi nhiều anh mỉm cười nói:
 
- Hôm nào mời Chú về nhà anh chơi, tiện thể mà thăm thú và tìm hiểu luôn. Bây giờ có nói cũng không thể hình dung hết được, đến đó anh sẽ dẫn chú đi xem đồi chè và đến thăm những gia đình chế biến chè. Lúc ấy thì chú tha hồ mà hỏi người ta.
 
Tôi vui mừng và hẹn khi có dịp thì sẽ về nhà anh, mà mục đích chính là để tìm hiểu về đất trồng chè, nơi đã làm ra sản phẩm chè ngon nức tiếng mà tôi luôn hâm mộ này. Người Miền Bắc có câu nói dân dã: “Chè Thái gái Tuyên” để thể hiện sự thừa nhận đối với sản phẩm chè Thái Nguyên thơm ngon. Còn gái Tuyên ở đây là chỉ người con gái xứ Tuyên Quang, những cô gái vùng này thường có nước da trắng ngần với vóc dáng yểu điệu ưa nhìn. So sánh nét xinh đẹp dễ thương của người con gái với hương vị thơm ngon của chè Thái Nguyên cho thấy sự trân trọng của người đời đối với sản phẩm đặc sản của vùng này. Thực là một cách nói tinh tế, khiến cho người ta có một sự liên tưởng đầy thi vị.
Rồi cũng đến ngày mà tôi mong đợi, nhân tiện anh Lễ về nhà có chút việc, hai anh em cùng đèo nhau về nhà anh, thăm xứ sở của cây chè. Vượt chặng đường xa gần cả trăm cây số bằng xe máy, rồi quê anh cũng dần hiện ra trước mắt. Từ phía xa đã thấy những ngọn đồi nhấp nhô, xen lẫn xóm làng ẩn hiện. Lúc đi qua một nhà xưởng với những máy móc dùng để chế biến trà, anh nói với tôi:
- Đây là nhà máy chè mới xây dựng, dân trồng chè trong vùng có thể mang chè búp tươi đến đây nhập cho nhà máy.
Tôi hỏi lại anh:
- Chè nhà máy thì sản phẩm có ngon bằng chè do người dân ở đây chế biến không anh?
Anh trả lời ngay:
- Chè nhà máy sản xuất thì không thể ngon bằng chè do bà con chế biến được, vì mọi người ở đây có bí quyết nên sản phẩm mới ngon và có đặc trưng riêng. Vả lại nhập chè búp cho nhà máy chỉ để giải quyết khâu thừa nguyên liệu thôi, bình thường họ vẫn chế biến tại nhà và tạo nên thương hiệu riêng, vì thế mà có thu nhập cao hơn.Tôi tự nhủ: “À ra thế, thảo nào mà chè ở đây vẫn giữ được sự thơm ngon khác biệt và tiếng tăm lâu bền như vậy!”. Về đến nhà anh thì cũng đã cuối buổi chiều, vì là khu dân cư nên chè không trồng ở đây, khu vực đồi chè cũng cách đây vài ba cây số. Buổi tối, sau khi đã dùng bữa, hai anh em ngồi uống trà, thứ trà đặc sản quê anh. Nhâm nhi chén trà ngon với hương vị đặc trưng ngay trên chính quê hương của cây chè thì thực là thú vị cho khách phương xa. Sau một lúc trò chuyện, anh Lễ nói:
- Tối nay hai anh em đến thăm mấy gia đình chế biến chè, cũng là anh chị em thân quen cả. Nhân tiện chú có thể hỏi họ về những mối quan tâm của mình, để hiểu thêm về chè Thái Nguyên. Sáng mai thì mình đi xem đồi chè, cùng những hộ trồng chè để thấy được vùng nguyên liệu.
Tôi vui vẻ làm theo ý anh. Sau khi uống mấy tuần trà, hai anh em đi bách bộ trong xóm để thăm thú mấy hộ sản xuất chè. Hộ gia đình đầu tiên mà chúng tôi ghé thăm là một chị có bà con với anh Lễ, nhà chị chế biến sản phẩm chè tại nhà, cũng đã có thương hiệu riêng. Sau khi chào hỏi, chúng tôi cùng ngồi vào bàn trò chuyện. Mọi người mời chúng tôi thứ trà có pha đường, mà khi uống thì vừa có vị ngon chát của trà xen lẫn vị ngọt của đường. Chị nói với tôi:
- Ở đây mọi người thường uống trà đường, đây là thức uống rất mát bổ vào mùa hè.
Sau những lời khen ngợi, bày tỏ sự hâm mộ đối với đất chè, tôi hỏi chị:
- Chị có thể cho biết nguyên do để Trà Thái Nguyên thơm ngon hơn Trà của các vùng khác?
Không chút đắn đo, chị trả lời tôi:
- Điểm khác biệt ở đây là kỹ thuật chế biến và chất đất trồng chè, tức là thổ nhưỡng phù hợp với cây chè. Vì vậy mà trà của vùng làm ra có chất lượng thơm ngon như mọi người thường thấy.
Anh Lễ xen vào:
- Về thổ nhưỡng thì chất đất ở đây phù hợp với cây chè, tuy vậy ngay trong vùng đất này cũng có những ngọn đồi cho chất lượng chè khác nhau. Ngọn đồi nào có chất đất tốt thì trồng ra loại chè thượng hảo hạng.
Chị chủ gật đầu xác nhận và nói thêm:
- Ngoài ra thì kỹ thuật chế biến quyết định chất lượng trà. Quan trọng nhất là bí quyết tạo hương, đó chính là điều làm cho chè Thái có hương vị thơm ngon. Chè do nhà máy sản xuất chỉ có ưu điểm là sản phẩm làm ra đồng đều, chứ không thể ngon bằng chè do bà con chế biến thủ công được.
Như vậy là những mối quan tâm, thắc mắc của tôi đã được giải đáp phần nào. Những gia đình khác mà chúng tôi đến thăm đều nhiệt tình giải đáp về mối quan tâm của tôi. Tựu trung lại thì có hai yếu tố chính để làm nên sản phẩm chè Thái Nguyên thơm ngon nổi tiếng: Đó là thổ nhưỡng và kinh nghiệm chế biến trà. Tất cả mọi người làm nghề chè ở đây đều không dấu nổi niềm tự hào về sự ưu đãi của tự nhiên đối với vùng đất này, cùng với sản phẩm chè mà họ làm ra. Riêng tôi thì cho rằng, họ còn có một bí quyết nữa để sản phẩm chè Thái Nguyên trở nên nức tiếng, đó là tình yêu đối với nghề trồng và chế biến chè của họ. Tình yêu đó nâng cánh cho những ước mơ khám phá để ngày càng tạo ra những giống chè mới, cùng sản phẩm trà thơm ngon phục phụ khách hàng, dâng tặng cho đời một thứ thức uống hữu ích và thanh nhã này.
Ở Thái Nguyên có các vùng trồng chè nổi tiếng như Tân Cương, Đồng Hỷ, Phú Lương...; trước đây, chè được trồng dưới hai hình thức: Các hộ gia đình trồng chè trong những khu vườn của mình, dạng này được phổ biến ở vùng Châu thổ Sông Hồng. Dạng thứ hai là cây chè rừng và đồi ở vùng rừng núi phía Bắc, bao gồm các vùng: Thái Nguyên, Hà Giang, Bắc Cạn, Tuyên Quang...; sau này xuất hiện thêm chè được chế biến công nghiệp, làm ra thứ chè đen truyền thống của ta hoặc chè xanh được sao trong chảo theo lối người Tàu. Mới đây người ta phát hiện ra giống chè cổ thuộc huyện Đại Từ - Thái Nguyên. Những cây chè này sinh trưởng ở khu vực rừng già, ở độ cao hơn 850 m so với mực nước biển. Có những cây có đường kính gần 1 m và cao hơn 20 m. Điều đó cho thấy lịch sử trồng chè lâu năm của vùng, cũng như trên đất nước ta.                                               -----o0o-----
Cây chè có xuất xứ sớm nhất thì phải nói đến Trung Quốc. Trên đất nước rộng lớn với nền văn minh lâu đời này có những vùng trồng và sản xuất chè nổi tiếng như: Chiết Giang, Giang Tô, Phúc Kiến, An Huy, Hồ Nam, Quý Châu...; Tại đây là nơi làm ra những sản phẩm trà ngon lừng danh khắp thế giới: Long Tỉnh, Hồng Trà, Bích Loa Xuân, Nham trà...; cách nay mấy ngàn năm, con đường tơ lụa được hình thành (Thế kỷ 2 trước Công nguyên) để chuyên chở tơ lụa và hàng hóa từ đất nước Trung Quốc đi khắp nơi. Con đường tơ lụa nối liền hai lục địa Á – Âu này bắt nguồn từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc kinh của Trung Quốc, từ đó đi qua Mông Cổ, Ấn Độ, Tây Á và đến Châu Âu. Sản phẩm Trà của Trung quốc cũng theo con đường Tơ Lụa mà đến với thế giới, đặc biệt là Châu Âu. Người Anh rất hâm mộ những sản phẩm Trà này và đã dùng làm thành một thức uống phổ biến của đất nước, tuy cách uống trà của họ có khác với người Trung Quốc.
Trở lại với đặc sản chè Thái Nguyên ở ta, vốn là niềm tự hào của người Việt. Ngày nay, cùng với sự phát triển của thương nghiệp thì sản phẩm chè Thái Nguyên đã được thế giới biết đến và hâm mộ. Vì thế mà sản phẩm đã bắt đầu nổi tiếng trên thế giới, khiến cho người nước ngoài biết đến một sản phẩm chè ngon của Việt Nam, bên cạnh các tên tuổi trà nổi tiếng khác của người Trung Quốc. Đối với người Việt Nam chúng ta thì chè Thái Nguyên luôn là thương hiệu của riêng người Việt, trong đó chứa đựng những tình cảm gần gũi xen lẫn niềm tự hào trong tâm thức.